Hòa giải là chế định quan trọng trong tố tụng dân sự. Do đó, nếu chế định hòa giải không được quan tâm trong việc giải quyết vụ án dân sự thì quyền và lợi ích của các bên đương sự sẽ không được bảo đảm.

  1. Hòa giải vụ án dân sự là gì?

Sau khi thụ lý vụ án, để giải quyết vụ án, tòa án tiến hành giải thích pháp luật, giúp các đương sự giải quyết mâu thuẫn, thỏa thuận với nhau về vụ án dân sự đó. Hoạt động này của tòa án được gọi là hòa giải vụ án dân sự.

 Như vậy, hòa giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự.

Hoạt động hòa giải được tiến hành trước khi xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Tuy nhiên, theo các Điều 220, 270 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) thì tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, tòa án cũng hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự không?

Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự thì toà án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Như vậy, việc hòa giải trước khi xét xử sơ thẩm là thủ tục bắt buộc, trừ những việc không hòa giải được hoặc pháp luật quy định không được hòa giải.

Nếu hòa giải thành cũng có nghĩa là tòa án đã hoàn thành việc giải quyết vụ án mà không cần mở phiên tòa.

  1. Nguyên tắc hòa giải vụ án dân sự:

Theo Điều 205 BLTTDS, khi tiến hành hòa giải phải tuân thủ những nguyên tắc sau:

  • Thứ nhất:

+ Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự;

+ Không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình;

  • Thứ hai: Nội dung thoả thuận giữa các đương sự:

+ Không vi phạm điều cấm của luật;

+ Không trái đạo đức xã hội.

  1. Phạm vi hòa giải vụ án dân sự:

Khoản 1 Điều 180 BLTTDS có quy định về trách nhiệm hòa giải của tòa án.

Theo đó, hòa giải được tiến hành với việc giải quyết hầu hết vụ án dân sự, trừ những trường hợp không hòa giải được hoặc pháp luật quy định không được hòa giải.

Hotline Tư Vấn 24/7: 1900.966.993

Theo Điều 181 BLTTDS, tòa án không hòa giải đối với:

  • Những yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước;
  • Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.

Thứ nhất: Những vụ án không được hòa giải:

  • Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.
  • Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.

Thứ hai: Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được:

  • Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.
  • Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng.
  • Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.
  • Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.
  1. Thành phần và thủ tục hòa giải:

a) Thành phần phiên hòa giải:

Thành phần tham gia phiên họp gồm có:

  • Thẩm phán chủ trì phiên họp;
  • Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp;
  • Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự;
  • Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động. Nếu không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản;
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có);
  • Người phiên dịch (nếu có).

b) Thủ tục tiến hành hòa giải:

  • Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ;
  • Nguyên đơn trình bày:

+ Nội dung tranh chấp, bổ sung yêu cầu khởi kiện;

+ Những căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

  • Bị đơn trình bày ý kiến của mình đối với:

+ Yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có);

+ Những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn;

+ Những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến của mình đối với:

+ Yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn;

+ Yêu cầu độc lập của mình (nếu có);

+ Những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn;

+ Những căn cứ để bảo vệ yêu cầu độc lập của mình và đề xuất quan điểm về hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

  • Người khác tham gia phiên họp hòa giải (nếu có) phát biểu ý kiến;
  • Sau đó, Thẩm phán xác định những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất;
  • Thẩm phán kết luận về những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất.
  1. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Theo Điều 212 Bộ luật tố tụng dân sự năm 201BLTTDS thì:

  • Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải mà không có thay đổi ý kiến thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự.
  • Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thoả thuận, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

Lưu ý:

  • Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Trên đây là bài viết của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm.

Để có thêm kiến thức pháp luật, vui lòng truy cập website luatdongduong.com.vn. Hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua tổng đài 1900.966.993 để được tư vấn, hỗ trợ.

Trân trọng.