Về nguyên tắc, doanh nghiệp được tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật. Việc tự do cạnh tranh phải được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và phải tuân theo các quy định của Luật Cạnh tranh.

Cạnh tranh một mặt là đòn bẩy, là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp khai thác và sử dụng tiềm năng, nội lực của mình trên thị trường một cách có hiệu quả, tuy nhiên cũng không tránh được những trường hợp vì lợi ích mà doanh nghiệp sử dụng những “thủ thuật” cạnh tranh không lành mạnh gây ra không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh doanh mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của người tiêu dùng và trật tự quản lý nhà nước.

“Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác.” (Khoản 6 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018)

Theo đó, chủ thể thực hiện hành vi này bao gồm các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, các hiệp hội ngành nghề. Quy định trên cũng áp dụng cho mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực kinh tế.

Thứ nhất, đây là hành vi cạnh tranh trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh

Thiện chí, trung thực là một trong những nguyên tắc đảm bảo cho việc kinh doanh lành mạnh, bình đẳng và có hiệu quả. Ngoài ra có thể căn cứ vào những tiêu chuẩn đã được định lượng hóa bằng pháp luật hoặc các tập quán kinh doanh đã được thừa nhận rộng rãi…để nhận biết hành vi.

                              Hotline Tư Vấn 24/7: 1900.966.993

Thứ hai, hành vi gây thiệt hại, có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp khác và người tiêu dùng.

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có đối tượng xâm hại cụ thể là lợi ích của Nhà nước, của các doanh nghiệp khác và người tiêu dùng. Thiệt hại mà hành vi gây ra có thể là dấu hiệu không bắt buộc, tuy nhiên Luật Cạnh tranh quy định một số hành vi có cấu thành vật chất (thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc) như hành vi gièm pha doanh nghiệp khác.

Những hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm được quy định tại Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018, bao gồm 7 hành vi: Xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh; ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó, cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác,…

Đối với những hành vi vi phạm quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ phải chịu chế tài theo quy định tại Nghị định số 71/2014/NĐ – CP về xử lý vi phạm pháp luật lĩnh vực cạnh tranh. Ngoài biện pháp phạt tiền tương ứng với hành vi vi phạm, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả như tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm, buộc cải chính công khai.