NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG HÌNH SỰ

Một trong những điểm nổi bật của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là nguyên tắc suy đoán vô tội. Nguyên tắc này được hướng dẫn và  phổ biến để áp dụng rộng rãi trong thực tiễn xét xử.

Từ những bản Hiến pháp đầu tiên có quy định “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

Như vậy, nếu một người có hành vi vi phạm pháp luật mà không đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự và khi chưa có bất kì một Bản án hay Quyết định của Tòa án thì người có hành vi vi phạm cũng không được coi là tội phạm và vẫn được đảm bảo các quyền công dân theo quy định của pháp luật.

Nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc quan trọng trong Tố tụng hình sự, nguyên tắc này yêu cầu cơ quan nhà nước phải tìm được các chứng cứ, tình tiết nhằm chứng minh theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định. Cụ thể nguyên tắc được quy định tại Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự như sau:

Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

Theo quy định trên nguyên tắc này phải đảm bảo các nội dung sau:

Thứ nhất, yêu cầu về trình tự, thủ tục của việc chứng minh tội phạm của người bị buộc tội đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Khi thực hiện quyền công tố, cơ quan công tố không thực hiện đúng quy định về tố tụng thì việc chứng minh người có hành vi vi phạm là có tội sẽ phải bắt đầu lại từ đầu.

Khi cơ quan nhà nước thực hiện quyền công tố – đại diện là Viện kiểm sát chứng minh tội phạm phải tuân theo đúng quy định về chứng cứ, nguồn chứng cứ để làm căn cứ buộc tội người có hành vi vi phạm pháp luật.

Nội dung trên nhấn mạnh chủ yếu về yêu cầu đảm bảo thực hiện đúng thủ tục pháp lý, là dấu hiệu quan trọng nhất của chế độ pháp quyền nước CHXHCNVN. Theo đó, tính công khai minh bạch là đòi hỏi cần thiết cho việc bảo vệ quyền con người chống lại sự truy bức tùy tiện, tránh trường các trường hợp bỏ lọt tội phạm và tránh xâm phạm quyền lợi của công dân.

Thứ hai, yêu cầu về lỗi của người bị buộc tội chỉ có thể được xác định bởi một bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Người thực hiện hành vi phạm tội chỉ được coi là tội phạm khi có Bản án của Tòa án. Bản án phải dựa trên các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội đã được xem xét tại phiên tòa.  Những tình tiết do người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác nêu ra sẽ không được coi là chứng cứ nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó. Những yêu cầu trên đây được quy định tại các Điều từ 91 – 94, Điều 98 của BLTTHS năm 2015 khi nói về chứng cứ, về lời khai của người làm chứng, của bị hại, của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

   Hotline Tư Vấn 24/7: 1900.966.993

Thứ ba, yêu cầu về lối tư duy logic đối với người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.

Mọi hoài nghi về tội của người bị buộc tội cần được giải thích theo hướng có lợi cho người đó. Đây là phần quan trọng thứ ba của nguyên tắc suy đoán vô tội.

Tại Điều 13 BLTTHS năm 2015 có quy định: “Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.

Khi buộc tội một người thì cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét đến các tình tiết có lợi cho người bị buộc tội để giảm nhẹ trách nhiệm cũng như hình phạt áp dụng. Đây cũng là một phần của nguyên tắc nhân đạo đối với người phạm tội của cơ quan ban hành pháp luật.

Như vậy, người có hành vi phạm tội không được coi là tội phạm khi không có bất kì một kết luận là có tội trong bản án. Và người đó không có tội cả khi cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không chứng minh được tội theo đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục tố tụng.

Nguyên tắc này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với thái độ của xã hội, của Nhà nước trong việc dùng pháp luật để điều chỉnh các hành vi xã hội và trong quan hệ của Nhà nước đối với cá nhân. Nguyên tắc suy đoán về tính hợp pháp của hành vi có nghĩa là: Hành vi của cá nhân phải luôn luôn được coi là hợp pháp khi chưa chứng minh được điều ngược lại.

Trên Website luatdongduong.com.vn luôn cập nhật những thông tin pháp luật nổi bật và hữu ích cho các độc giả! Quý độc giả liên hệ hotline tư vấn 1900.966.993 để được tư vấn và hỗ trợ.

Chuyên viên

Nguyễn Thanh Hà