Chiếm đoạt tài sản bằng hợp đồng đưa người đi xuất khẩu lao động bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hiện nay khi nhu cầu đi xuất khẩu lao động của nhiều người lao động trẻ ngày càng gia tăng, người lao động thấy đi xuất khẩu lao động bên nước ngoài có thu nhập cao hơn so với trong nước. Và họ tìm nhiều cách để có cơ hội đi xuất khẩu lao động tại các công ty xuất khẩu lao động mà không rõ thực hư công ty đó là có thật hay không?

Dựa vào xu thế này rất nhiều công ty có hợp tác với các công ty nước ngoài đào tạo học tiếng trong nước rồi sang nước ngoài làm việc. Nhưng không ít công ty chỉ lợi dụng sự không hiểu biết của người lao động để làm hợp đồng xuất khẩu lao động. Nhiều người dân vay tiền để cho con được đi xuất khẩu lao động nhưng lại không được đi theo lịch đi mà trong hợp đồng đã ký kết. Công ty lấy tiền của dân rồi bỏ trốn. Người dân mất tiền tìm đến công ty đòi nhưng công ty đóng cửa không hoạt động. Hành vi của những công ty trên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo hay không?

Tại các vùng nông thôn khi người dân không tiếp cận nhiều đến thông tin pháp luật nhiều nên sự hiểu biết bị hạn chế. Người dân với suy nghĩ đơn giản cho con đi xuất khẩu lao động để kiếm được thu nhập cao hơn khi ở nhà mà không quan tâm nhiều đến công ty tuyển dụng người xuất khẩu lao động đi nước ngoài như thế nào, nguồn gốc ra sao. Lợi dụng sự hiểu biết còn hạn chế các công ty được thành lập lên với mục đích lợi dụng lòng tin, lừa đảo người dân bằng những hợp đồng xuất khẩu lao động không có thật để nhận tiền đào tạo học tập khi tham gia học để đi xuất khẩu. Hành vi chiếm đoạt tài sản của người dân của các công ty xuất khẩu lao động giả tạo, công ty ma sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cụ thể:

Theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự quy định: Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài  sản được thể hiện qua hai mặt, đây là đặc trưng của tội phạm là: có hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt. Hành vi gian dối có trước rồi mới có hành vi chiếm đoạt được tài sản.

Hành vi lừa đảo được mô tả trong điều luật thể hiện mặt chủ quan là người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để đánh lừa chủ sở hữu tài sản nhằm lấy được lòng tin từ chủ tài sản, chủ sở hữu tài sản dựa vào lời nói hoặc hành động của người phạm tội mà tin rằng đó là sự việc có thật.Từ việc lấy được lòng tin của người chủ sở hữu và họ tự nguyện giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho người phạm tội mà không biết đang bị lừa.

Cũng giống như những người dân khi chỉ xem hợp đồng lao động và nghe những người tư vấn tại các công ty nhận đưa người Việt đi nước ngoài lao động mà tin đó là công ty làm ăn uy tín rồi đưa tiền cho công ty theo hợp đồng.

Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Khoản 1 của điều luật quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Hotline Tư Vấn 24/7: 1900.966.993

Người dân đã giao tiền cho công ty nhận người đưa người Việt đi xuất khẩu dựa vào số tiền mà công ty chiếm đoạt được làm căn cứ xác định khung hình phạt áp dụng theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015. Nhưng trên thực tế việc điều tra những vụ việc lừa đảo gặp khó khăn vì người phạm tội sau khi lấy được tiền đã bỏ trốn khỏi địa phương và người dân có rất ít thông tin từ các thông tin này.

Hiện nay hành vi lừa đảo ngày càng nhiều với nhiều hình thức khác nhau nên người dân cần tìm hiểu kỹ các thông tin trước khi giao tài sản cho người khác. Tránh những trường hợp mất tiền mà không đạt được mục đích.

Trên Website luatdongduong.com.vn luôn cập nhật những thông tin pháp luật nổi bật và hữu ích cho các độc giả! Quý độc giả liên hệ hotline tư vấn 1900.966.993 để được tư vấn và hỗ trợ.

Chuyên viên

Nguyễn Thanh Hà