Đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật là cách gọi khác của việc tự ý nghỉ ngang công việc. Vậy, khi đó, người lao động sẽ bị mất những quyền lợi gì?

  1. Không được hưởng trợ cấp thôi việc:

Điều 48 Bộ luật Lao động 2012 nêu rõ:

Khi chấm dứt hợp đồng lao động:

  • Người sử dụng lao động (NSDLĐ) có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động (NLĐ) đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên.
  • Mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. Trong đó:

+ Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là:

Tổng thời gian NLĐ đã làm việc thực tế cho NSDLĐ trừ đi thời gian NLĐ đã tham gia BHTN và thời gian làm việc đã được NSDLĐ chi trả trợ cấp thôi việc.

+ Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi NLĐ thôi việc.

Theo khoản 1 Điều 43 Bộ luật này, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, NLĐ sẽ không được nhận khoản trợ cấp này.

  1. Không được hưởng trợ cấp thất nghiệp:

Theo quy định tại Điều 49 Luật Việc làm 2013, NLĐ được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ 04 điều kiện dưới đây:

  • Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Trừ trường hợp:

+ Đơn phương chấm dứt trái pháp luật;

+ Đang hưởng lương hưu;

+ Trợ cấp mất sức lao động hàng tháng;

  • Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian:

+ 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn;

+ 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng;

  • Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm;
  • Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ. Trừ trường hợp:

+ Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

+ Bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù;

+ Ra nước ngoài định cư…

Như vậy, theo quy định trên, NLĐ tự ý nghỉ việc là người không đáp ứng được điều kiện theo quy định. Do đó, sẽ không được nhận trợ cấp thất nghiệp.

Hotline Tư Vấn 24/7: 1900.966.993

  1. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động:

Để bù đắp tổn thất cho NSDLĐ, Điều 43 Bộ luật Lao động quy định nghĩa vụ bồi thường của NLĐ khi chấm dứt hợp đồng lao động trái luật. Cụ thể như sau:

Thứ nhất là bồi thường nửa tháng tiền lương trong mọi trường hợp;

Thứ hai là bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày không báo trước nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước. Trong đó, thời hạn báo trước:

  • Ít nhất 03 ngày làm việc khi:

+ Không được bố trí đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc điều kiện làm việc đã thỏa thuận;

+ Không được trả lương đầy đủ hoặc trả không đúng hạn đã thỏa thuận;

+ Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động…

  • Ít nhất 30 ngày với người làm theo hợp đồng xác định thời hạn;
  • Ít nhất 45 ngày với người làm theo hợp đồng không xác định thời hạn.
  1. Phải trả lại chi phí đào tạo:

Khoản tiền này chỉ áp dụng với NLĐ được NSDLĐ đào tạo hoặc cử đi đào tạo trong quá trình làm việc.

Số tiền phải trả lại là tổng số tiền của:

  • Các chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành;
  • Các chi phí khác hỗ trợ cho người học;
  • Tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho NLĐ trong thời gian đi học.

Trường hợp được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài.

Trên đây là bài viết của chúng tôi về vấn đề bạn đang quan tâm.

Để có thêm kiến thức pháp luật, vui lòng truy cập website luatdongduong.com.vn. Hoặc liên hệ với chúng tôi qua tổng đài 1900.966.993 để được tư vấn, hỗ trợ.

Trân trọng.